Về trực giác
Về trực giác
Con người ta vẫn không thể nào lý giải một cách khoa học về trực giác, có lẽ, bởi trực giác vồn dĩ là một hiện tượng lạ kì đầy phi lý và phi khoa học. Con người không thể áp cho trực giác bất kì một cách luận giải nào. Nếu chỉ đơn thuần đứng trên góc độ ngôn ngữ học thì một câu hỏi đại loại như: “Có thể giải thích được trực giác không?” chẳng có gì đáng bàn cãi. Nhưng xét về bản chất, người đặt câu hỏi ấy lẽ ra phải diễn đạt rằng: “Có thể quy trực giác về với trí năng của con người được hay không?” Trực giác, đó là thứ thực sự đã vượt ra ngoài trí năng của con người, không lệ thuộc vào ý chí chúng ta, và nó xuất phát từ một nơi nào đó mà trí óc của con người hoàn toàn không thể nhận thức được. Bằng trí năng của mình, con người chỉ có thể cảm nhận, mà không thể nào lý giải.
Sự xuất hiện đột ngột của trực giác luôn đi cùng với một khoảng trống nào đó mà con người chúng ta có thể phát hiện ra. Chính trí năng giúp chúng ta cảm nhận được sự tồn tại của trực giác, nhờ trí năng mà chúng ta có thể nhận thấy rằng đã có việc gì đó khác thường xảy ra, nhưng chúng ta không thể giải thích được điều đó, đơn giản là vì mọi lý giải đều cần phải có căn cứ hợp lý. Lý giải về trực giác cũng có nghĩa là tìm câu trả lời cho câu hỏi: trực giác tới từ đâu, tại sao lại có trực giác, và nguyên do của tất cả những đều ấy là gì. Nhưng có một điều rõ rang, đó là nó không xuất phát từ bản thân trí năng mà xuất phát từ một nơi nào đó, bởi vậy, bằng trí tuệ của mình, con người không thể tìm thấy lời giải thích nào rõ rang. Sự tồn tại của trực giác không có căn nguyên, không sợi dây liên hệ, không chung nguồn mạch nào với trí năng của chúng ta.
Trực giác là một miền đất khác lạ, nơi đang diễn ra những sự việc không hề có mối liên hệ nào với trí óc con người, mặc dù nó tồn tại ngay bên trong trí óc của chúng ta. Trực giác bước vào trong trí năng cũng tương tự như sự thâm nhập của một dạng tồn tại ở cấp cao vào bên trong một dạng tồn tại ở cấp độ thấp hơn, có điều, sự thâm nhập ấy chỉ diễn ra theo một chiều, không hề có chiều ngược lại.
Giống như việc trí tuệ có thể thâm nhập vào thể xác con người, trong khi thể xác không làm được điều ngược lại, sự tồn tại cũng có thể quyết định được trí tuệ, nhưng trí tuệ, một lần nữa, lại không thể thâm nhập trở lại vào bản thân sự tồn tại. Đó là lí do tại sao để tiến tới tồn tại ta lại cần phải tách bạch chính mình với cả thân thể và tâm trí. Thân thể và tâm trí không thể tiến lên cấp độ cao hơn nó được.
Để bước tới một hình thái cao hơn, thế giới hiện tại nhất thiết phải tự cắt gọt. Các thuật ngữ của con người không còn tồn tại và không còn đủ ý nghĩa để lí giải cho điều đó, nhưng trí năng thì vẫn cảm nhận được sự khác biệt ấy. Trí năng có thể nhận ra rằng “có thứ gì đó vẫn đang diễn ra, nhưng nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.” Thậm chí, trí năng còn có thể làm được nhiều hơn cả sự nhận biết đó.
Nhưng cũng có thể, trí năng sẽ không thừa nhận những gì đã xảy ra. Ở đây, vấn đề là có hay không một được tin. Những ai tin rằng không có gì thực sự tồn tại trên đời mà không thể giải thích được bằng khoa học là người “vô thần”. Và sự tồn tại của họ vẫn sẽ cứ tiếp tục chảy quẩn quanh ở cấp thấp, cấp bậc của trí năng, họ tiếp tục bị bó buộc trong thế giới của những điều có thể giải thích được ấy. Họ không thừa nhận những bí ẩn vốn không thể nào giải thích nổi, và tất nhiên là cũng không để cho trực giác có cơ hội lên tiếng.
Đó là hình ảnh của người theo chủ nghĩa duy lý. Họ thậm chí sẽ không nhận ra rằng bản thân mình đang có cơ hội tiếp xúc với điều kì lạ đến tuyệt diệu, mà nếu chỉ dùng những gì có trong thế giới của mình, họ sẽ chẳng bao giờ giải thích được. Trở thành một sản phẩm của chủ nghĩa duy lý có nghĩa là sẽ không thừa nhận một cấp độ tồn tại cao hơn, sẽ phũ nhận nhận nó bằng mọi cách, và khăng khăng: “Không thể nào. Điều đó chỉ có trong trí tượng hoặc trong mơ. Tôi sẽ không thừa nhận điều đó trừ khi tôi có thể chứng minh nó bằng tri thức.” Một bộ óc duy lý là một bộ óc hạn hẹp, đóng chặt cửa bằng những giới hạn của lập luận. (Còn tiếp)
Nhận xét
Đăng nhận xét